Thả một bè lau
Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2026
Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020
Thư của Soeur Yamagata (山形) gửi Yoshioka (吉岡) (tiếp theo)
私が棄てた女
遠藤周作
遠藤周作
Tôi đã mấy lần nói chuyện với cô ấy về chúa trời của tôi. Mi-xu không lảng tránh những câu chuyện như vậy, nhưng tôi cũng không thể thuyết phục nổi cô ấy, và không phải vì rằng tôi không bảo vệ được chân lý trong niềm tin của tôi.
Còn việc mà tôi sắp kể dưới đây, xảy ra vào đầu tháng chạp năm ngoái.
Trong bệnh viện của chúng tôi có bốn em bé (chắc anh ngạc nhiên rằng trẻ em cũng bị bệnh Hăng-xen, nhưng chúng càng nặng hơn. Bệnh không gặp sức đề kháng của cơ thể trẻ em nên phát triển rất nhanh). Chắc anh biết rằng Mi-xu rất yêu trẻ em và dành cho chúng hầu hết toàn bộ số tiền lương của mình. Trong số mấy đứa trẻ bị bệnh có cháu trai sáu tuổi Xô-chi-an. Vi khuẩn hủi đã làm tê liệt hệ thống thần kinh của cháu. Không có hy vọng gì để cứu chữa nữa cả. Đến cả pê-nê-xi-lin cũng đã mất hết tác dụng.
Ba ngày đêm liền Mi-xu không rời khỏi cháu bé. Cô ấy đã hoàn toàn kiệt sức, mắt đỏ ngầu. Tôi buộc phải ra lệnh cho Mi-xu về buồng nghỉ, nhưng cô ấy phản đối:
- Không có em, Xô-chi-an sẽ không chịu…
Những ngón tay của cô ấy đã đỏ tấy lên vì phải đập nước đá để băng bó.
- Chị sẽ cho người thay em, em đừng lo. Đứng không vững nữa rồi kìa.
- Không, không! Đêm hôm qua em cầu chúa bắt em phải bị hủi, để cho Xô-chi-an khỏi bệnh. Nếu như quả có chúa… ngài cần phải nghe lời cầu của em.
- Em không được nói thế, - Tôi gay gắt ra lệnh. - và phải đi ngủ ngay, nhìn em thật là đáng sợ.
Đến bây giờ tôi vẫn thấy trước mặt mình Mi-xu quỳ trên mặt sàn lạnh buốt của bệnh viện và cầu chúa cho cô phải chịu bất cứ sự khổ ải nào để cho cháu bé Xô-chi-an khỏi đau đớn. Nếu anh biết Mi-xu, chắc anh sẽ hiểu rằng sự việc quả là như vậy.
Năm ngày sau cháu bé chết.
Tôi sẽ không kể việc gì xảy ra với Mi-xu, cô ấy bảo tôi:
- Em không còn tin vào chúa nữa, hoặc nếu có chúa, ông ta là kẻ độc ác và đáng sợ. Tại sao đứa bé không có tội tình gì kia phải chịu đau đớn như vậy? Không có chúa, không …
Hình như Mi-xu vung cả nắm tay nhỏ bé của mình ra trước mặt chúa trời đe dọa. “ Mà thực ra, - tôi nghĩ, - tại sao những người tốt bụng, lương thiện lại phải đau khổ, còn những kẻ đểu giả lại sung sướng?” Mi-xu phủ nhận chúa, cho rằng chúa có lỗi trong các đau khổ đó. Làm sao giải thích cho cô ấy hiểu rằng những việc làm xấu xa diễn ra trái với ý muốn của chúa và chúa cũng đau khổ cùng với con người?
Nhưng không có sự đau khổ nào có thể so sánh được với sự tuyệt vọng của con người cô đơn khi người đó biết rằng không ai quan tâm đến mình cả. Và tuy thế, tôi vẫn cho rằng thậm chí ở trong hoang mạc không người, con người vẫn không một mình. Làm sao có thể giải thích cho Mi-xu rằng chúa liên kết tất cả chúng ta lại. Còn Mi-xu là một trong những mắt xích mà nhờ đó chúa liên kết mọi người lại với nhau. Nhưng chính cô ấy lại không hề biết đến điều đó.
Xin lỗi anh rằng tôi đã viết quá nhiều về chuyện không liên quan trực tiếp điều cơ bản của lá thư chúng ta, và có lẽ lại rất không mạch lạc. Chính tôi cũng cần phải tìm hiểu thêm nhiều điều trong số phận cuộc đời của Mi-xu.
Bây giờ kể đến cái ngày đau buồn khi Mi-xu gặp nạn.
Việc xảy ra ngày 22 tháng 12. Hai mươi bốn là lễ chúa giáng sinh, và chúng tôi luôn có lệ chuẩn bị quà cho người bệnh. Ngân quỹ của chúng tôi rất ít ỏi, nhưng dù sao chúng tôi cũng tìm cách chi ít nhiều cho quà giáng sinh.
Ngày hai mươi buổi trưa, tôi bảo Mi-xu đi Ô-đem-ba bán trứng và những đồ thêu do những người bệnh nhẹ làm ra, lấy tiền mua một vài thứ quà gì đó.
Bây giờ tôi nghĩ rằng sẽ chẳng có việc gì xảy ra nếu lần đó tôi tự đi. Nhưng Mi-xu rất thích những lần đi như thế, và hôm đó tôi lại bận.
Ba giờ chiều cô ấy từ bệnh viện đi trên chiếc xe tải của Xi-ma-ta, một lái xe làm ở chỗ chúng tôi.
Như thường lệ, cô ấy hát “Những ngọn núi It-du” và các bệnh nhân gọi nói theo:
- Mit-chi-an, nhớ đừng bán rẻ nhé! Và dọc đường đừng đánh vỡ hết trứng đấy!
Bốn giờ rưỡi có tiếng chuông điện thoại. Từ đồn cảnh sát Ô-đem-ba gọi đến. Người ta báo cho chúng tôi số hiệu bệnh viện nơi Mi-xu được đưa đến để cấp cứu. Khi đặt ống nghe xuống, tay tôi run bắn lên.
Tôi trông thấy Mi-xu đang nằm bất tỉnh trên giường nệm trắng. Hai lỗ mũi gắn hai ống cao su để truyền dưỡng khí. Chân và tay đầy những vết tiêm - phải truyền máu cho cô. Bộ ngực nhỏ của Mi-xu khẽ phập phồng.
Xi-ma-ta kể lại rằng khi Mi-xu đi qua quảng trường trước nhà ga, một chiếc xe hơi lao đến. Nếu Mi-xu vứt sọt trứng xuống, cô ấy có thể chạy thoát. Trứng bắn ra tung tóe khắp quảng trường, và lúc cô còn tỉnh, cứ nhắc đi nhắc lại:
- Trứng, trứng…
Cô ấy nằm bất tỉnh hôn mê mất bốn tiếng đồng hồ.
- Cô ấy có trái tim rất khỏe, - Các bác sĩ nói.- Nếu không, đã chết từ lâu.
Mi-xu được tiếp long não liên tục, nhưng vô hiệu: 10 giờ hai mươi phút tối Mi-xu không còn nữa. Trước đó một lúc tôi gọi điện về nhà thờ ở Ô-đem-ba xin vị cha cố cầu nguyện cho linh hồn của cô ấy.
Trong khi mê sảng, có một lần Mi-xu kêu lên thành tiếng. Nếu tôi không nghe ra những lời của cô ấy, tôi đã không viết cho anh những bức thư dài như thế này. Tôi không biết quan hệ giữa anh với Mi-xu như thế nào. Mi-xu không bao giờ nói gì với tôi cả. Nhưng những lời cuối cùng của Mi-xu thốt lên, phải cố gắng mở to cặp mắt đã cứng đờ, là:
- Vĩnh biệt anh, I-ô-xi-ô-ca …
Tôi vừa mới gửi tất cả đồ đạc của Mi-xu cho cha cô ấy: một va-li, cặp áo lót và một áo khoác ngoài đã cũ. Cầm lấy những đồ vật đó, tôi lại nhớ đến những điều mà đã từ lâu làm tôi phải suy nghĩ.
Nếu như chúa ra lệnh cho tôi gọi tên người gần gũi nhất đối với tôi, tôi không ngập ngừng gọi ngay tên Mi-xu. Nếu chúa hỏi tôi, tôi muốn trở thành người như thế nào, không cần nghĩ ngợi, tôi đáp ngay: Như Mi-xu…”
Còn việc mà tôi sắp kể dưới đây, xảy ra vào đầu tháng chạp năm ngoái.
Trong bệnh viện của chúng tôi có bốn em bé (chắc anh ngạc nhiên rằng trẻ em cũng bị bệnh Hăng-xen, nhưng chúng càng nặng hơn. Bệnh không gặp sức đề kháng của cơ thể trẻ em nên phát triển rất nhanh). Chắc anh biết rằng Mi-xu rất yêu trẻ em và dành cho chúng hầu hết toàn bộ số tiền lương của mình. Trong số mấy đứa trẻ bị bệnh có cháu trai sáu tuổi Xô-chi-an. Vi khuẩn hủi đã làm tê liệt hệ thống thần kinh của cháu. Không có hy vọng gì để cứu chữa nữa cả. Đến cả pê-nê-xi-lin cũng đã mất hết tác dụng.
Ba ngày đêm liền Mi-xu không rời khỏi cháu bé. Cô ấy đã hoàn toàn kiệt sức, mắt đỏ ngầu. Tôi buộc phải ra lệnh cho Mi-xu về buồng nghỉ, nhưng cô ấy phản đối:
- Không có em, Xô-chi-an sẽ không chịu…
Những ngón tay của cô ấy đã đỏ tấy lên vì phải đập nước đá để băng bó.
- Chị sẽ cho người thay em, em đừng lo. Đứng không vững nữa rồi kìa.
- Không, không! Đêm hôm qua em cầu chúa bắt em phải bị hủi, để cho Xô-chi-an khỏi bệnh. Nếu như quả có chúa… ngài cần phải nghe lời cầu của em.
- Em không được nói thế, - Tôi gay gắt ra lệnh. - và phải đi ngủ ngay, nhìn em thật là đáng sợ.
Đến bây giờ tôi vẫn thấy trước mặt mình Mi-xu quỳ trên mặt sàn lạnh buốt của bệnh viện và cầu chúa cho cô phải chịu bất cứ sự khổ ải nào để cho cháu bé Xô-chi-an khỏi đau đớn. Nếu anh biết Mi-xu, chắc anh sẽ hiểu rằng sự việc quả là như vậy.
Năm ngày sau cháu bé chết.
Tôi sẽ không kể việc gì xảy ra với Mi-xu, cô ấy bảo tôi:
- Em không còn tin vào chúa nữa, hoặc nếu có chúa, ông ta là kẻ độc ác và đáng sợ. Tại sao đứa bé không có tội tình gì kia phải chịu đau đớn như vậy? Không có chúa, không …
Hình như Mi-xu vung cả nắm tay nhỏ bé của mình ra trước mặt chúa trời đe dọa. “ Mà thực ra, - tôi nghĩ, - tại sao những người tốt bụng, lương thiện lại phải đau khổ, còn những kẻ đểu giả lại sung sướng?” Mi-xu phủ nhận chúa, cho rằng chúa có lỗi trong các đau khổ đó. Làm sao giải thích cho cô ấy hiểu rằng những việc làm xấu xa diễn ra trái với ý muốn của chúa và chúa cũng đau khổ cùng với con người?
Nhưng không có sự đau khổ nào có thể so sánh được với sự tuyệt vọng của con người cô đơn khi người đó biết rằng không ai quan tâm đến mình cả. Và tuy thế, tôi vẫn cho rằng thậm chí ở trong hoang mạc không người, con người vẫn không một mình. Làm sao có thể giải thích cho Mi-xu rằng chúa liên kết tất cả chúng ta lại. Còn Mi-xu là một trong những mắt xích mà nhờ đó chúa liên kết mọi người lại với nhau. Nhưng chính cô ấy lại không hề biết đến điều đó.
Xin lỗi anh rằng tôi đã viết quá nhiều về chuyện không liên quan trực tiếp điều cơ bản của lá thư chúng ta, và có lẽ lại rất không mạch lạc. Chính tôi cũng cần phải tìm hiểu thêm nhiều điều trong số phận cuộc đời của Mi-xu.
Bây giờ kể đến cái ngày đau buồn khi Mi-xu gặp nạn.
Việc xảy ra ngày 22 tháng 12. Hai mươi bốn là lễ chúa giáng sinh, và chúng tôi luôn có lệ chuẩn bị quà cho người bệnh. Ngân quỹ của chúng tôi rất ít ỏi, nhưng dù sao chúng tôi cũng tìm cách chi ít nhiều cho quà giáng sinh.
Ngày hai mươi buổi trưa, tôi bảo Mi-xu đi Ô-đem-ba bán trứng và những đồ thêu do những người bệnh nhẹ làm ra, lấy tiền mua một vài thứ quà gì đó.
Bây giờ tôi nghĩ rằng sẽ chẳng có việc gì xảy ra nếu lần đó tôi tự đi. Nhưng Mi-xu rất thích những lần đi như thế, và hôm đó tôi lại bận.
Ba giờ chiều cô ấy từ bệnh viện đi trên chiếc xe tải của Xi-ma-ta, một lái xe làm ở chỗ chúng tôi.
Như thường lệ, cô ấy hát “Những ngọn núi It-du” và các bệnh nhân gọi nói theo:
- Mit-chi-an, nhớ đừng bán rẻ nhé! Và dọc đường đừng đánh vỡ hết trứng đấy!
Bốn giờ rưỡi có tiếng chuông điện thoại. Từ đồn cảnh sát Ô-đem-ba gọi đến. Người ta báo cho chúng tôi số hiệu bệnh viện nơi Mi-xu được đưa đến để cấp cứu. Khi đặt ống nghe xuống, tay tôi run bắn lên.
Tôi trông thấy Mi-xu đang nằm bất tỉnh trên giường nệm trắng. Hai lỗ mũi gắn hai ống cao su để truyền dưỡng khí. Chân và tay đầy những vết tiêm - phải truyền máu cho cô. Bộ ngực nhỏ của Mi-xu khẽ phập phồng.
Xi-ma-ta kể lại rằng khi Mi-xu đi qua quảng trường trước nhà ga, một chiếc xe hơi lao đến. Nếu Mi-xu vứt sọt trứng xuống, cô ấy có thể chạy thoát. Trứng bắn ra tung tóe khắp quảng trường, và lúc cô còn tỉnh, cứ nhắc đi nhắc lại:
- Trứng, trứng…
Cô ấy nằm bất tỉnh hôn mê mất bốn tiếng đồng hồ.
- Cô ấy có trái tim rất khỏe, - Các bác sĩ nói.- Nếu không, đã chết từ lâu.
Mi-xu được tiếp long não liên tục, nhưng vô hiệu: 10 giờ hai mươi phút tối Mi-xu không còn nữa. Trước đó một lúc tôi gọi điện về nhà thờ ở Ô-đem-ba xin vị cha cố cầu nguyện cho linh hồn của cô ấy.
Trong khi mê sảng, có một lần Mi-xu kêu lên thành tiếng. Nếu tôi không nghe ra những lời của cô ấy, tôi đã không viết cho anh những bức thư dài như thế này. Tôi không biết quan hệ giữa anh với Mi-xu như thế nào. Mi-xu không bao giờ nói gì với tôi cả. Nhưng những lời cuối cùng của Mi-xu thốt lên, phải cố gắng mở to cặp mắt đã cứng đờ, là:
- Vĩnh biệt anh, I-ô-xi-ô-ca …
Tôi vừa mới gửi tất cả đồ đạc của Mi-xu cho cha cô ấy: một va-li, cặp áo lót và một áo khoác ngoài đã cũ. Cầm lấy những đồ vật đó, tôi lại nhớ đến những điều mà đã từ lâu làm tôi phải suy nghĩ.
Nếu như chúa ra lệnh cho tôi gọi tên người gần gũi nhất đối với tôi, tôi không ngập ngừng gọi ngay tên Mi-xu. Nếu chúa hỏi tôi, tôi muốn trở thành người như thế nào, không cần nghĩ ngợi, tôi đáp ngay: Như Mi-xu…”
Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020
Hương Xoài
Nguyễn Hoa Lư
Hai tuần nằm dài, thực hiện các chế độ nghiêm ngặt của bác sĩ, sức khoẻ Thái bắt đầu bình phục nhưng chứng mất ngủ vẫn cứ bám riết lấy anh. Vẫn còn những đêm trắng, mắt chong chong nhìn vào đêm tối, vẫn còn những giấc ngủ đầy mộng mị.
Buổi sáng ra viện, Thuỷ đến đón Thái, đưa cho anh một bức thư nhỏ, nói: "Em vừa xin tổng biên tập cho anh nghỉ thêm một tuần. Anh sẽ đến nhà một ông chú họ của em. Giữa một rừng xoài, tha hồ mà tĩnh dưỡng". Thái cầm phong bì, liếc nhìn địa chỉ, mặt chợt nóng ran, tim đập loạn xạ như một con chim mắc bẫy. Thuỷ lom lom nhìn anh, hỏi:
- Anh biết nơi này rồi hở?
- Biết... Nhưng chưa một lần đến.
- Sao biết?
- À... một người quen... cũng lâu lắm rồi...
Thuỷ nhướng đôi mắt sắc lẻm răn:
- Anh về đó là để nghỉ ngơi và để chữa chứng mất ngủ đấy nhé.
Thái choàng tay qua vai Thuỷ, cười cười:
- Em viết thư giới thiệu anh với ông chú ra sao?
- Còn viết sao nữa, rằng đây là chồng chưa cưới của con. Chú xem có ưng cái bụng không thì ký duyệt cho một chữ cho con nhờ.
- Vậy thì anh chỉ còn một cách là làm con ong chăm chỉ trong vườn xoài của ông chú em, được chưa?
Thái như vừa qua một sự chấn động, một thoáng như nghẹt thở vì một cảm giác rất lạ. Phải chăng đây là sự đùa cợt của số phận. Anh sẽ về một ngôi làng mà dăm năm trước, khi còn là một sinh viên, tên làng vang lên thiêng liêng như tên một thánh địa.
Bên anh, Thuỷ đang ríu rít điều gì đó. Thuỷ giỏi giang, xinh đẹp. Tương lai của Thái sẽ đầy hứa hẹn khi có một người bạn đồng hành như Thuỷ. Những nhân vật khả kính trong thành phố này đều là bạn chiến đấu thuở nằm hầm của ba Thuỷ.
Thuỷ thực tế, nhìn xa trông rộng. Mà sao Thái lại có một chuyến hành hương đầy bất ngờ thế này.
Buổi sáng ra viện, Thuỷ đến đón Thái, đưa cho anh một bức thư nhỏ, nói: "Em vừa xin tổng biên tập cho anh nghỉ thêm một tuần. Anh sẽ đến nhà một ông chú họ của em. Giữa một rừng xoài, tha hồ mà tĩnh dưỡng". Thái cầm phong bì, liếc nhìn địa chỉ, mặt chợt nóng ran, tim đập loạn xạ như một con chim mắc bẫy. Thuỷ lom lom nhìn anh, hỏi:
- Anh biết nơi này rồi hở?
- Biết... Nhưng chưa một lần đến.
- Sao biết?
- À... một người quen... cũng lâu lắm rồi...
Thuỷ nhướng đôi mắt sắc lẻm răn:
- Anh về đó là để nghỉ ngơi và để chữa chứng mất ngủ đấy nhé.
Thái choàng tay qua vai Thuỷ, cười cười:
- Em viết thư giới thiệu anh với ông chú ra sao?
- Còn viết sao nữa, rằng đây là chồng chưa cưới của con. Chú xem có ưng cái bụng không thì ký duyệt cho một chữ cho con nhờ.
- Vậy thì anh chỉ còn một cách là làm con ong chăm chỉ trong vườn xoài của ông chú em, được chưa?
Thái như vừa qua một sự chấn động, một thoáng như nghẹt thở vì một cảm giác rất lạ. Phải chăng đây là sự đùa cợt của số phận. Anh sẽ về một ngôi làng mà dăm năm trước, khi còn là một sinh viên, tên làng vang lên thiêng liêng như tên một thánh địa.
Bên anh, Thuỷ đang ríu rít điều gì đó. Thuỷ giỏi giang, xinh đẹp. Tương lai của Thái sẽ đầy hứa hẹn khi có một người bạn đồng hành như Thuỷ. Những nhân vật khả kính trong thành phố này đều là bạn chiến đấu thuở nằm hầm của ba Thuỷ.
Thuỷ thực tế, nhìn xa trông rộng. Mà sao Thái lại có một chuyến hành hương đầy bất ngờ thế này.
° ° °
Những vườn xoài rộng, nối tiếp nhau như không bao giờ có tận cùng. Gốc xoài to, một người ôm không xuể, tán lá xoè rộng và vươn cao. Đang là mùa ra hoa. Một mùi hương dịu ngọt lan toả khắp vườn khắp ngõ. Chú Tư Râu nói với Thái, vườn xoài này cha con chú trồng từ những năm chú mới lên mười. Bây giờ chú đã sáu mươi. Hơn 40 năm nay, đều đặn, cứ vào mùa, hoa xoài lại nở bung ra, vào hè thì quả đã bắt đầu vàng ruộm.
Hàng giờ liền, Thái lang thang trong những vườn xoài. Hương xoài ngọt, hoa nở bung, vàng ươm, trông xa như một trời pháo hoa.
Không hề có những lời lẽ bi lụy, những ánh nhìn ướt át. Không có cả những câu hỏi thăm bóng gió. Cô sinh viên mơ mộng ngày nào giờ đón Thái như đón một người bạn cũ lâu ngày gặp lại. Thái cố cười to, cố bắt chặt tay Quyên rồi khảng khái buông ra. Quyên cũng cười theo, tiếng cười trong trẻo. Em đưa đến một xâu mực khô, để hai chú cháu lai rai với nhau.
Quyên nhóm xong bếp lò, đặt bên cạnh chiếc chõng tre đầu hè rồi xin phép về. Nhìn màu chiều xuống chậm trên tán xoài, Thái thấy mắt mình cay cay. Vì rượu, vì khói than bay xộc vào mắt hay vì điếu thuốc rê to sụ trên tay? Lần đầu tiên trong đời, anh ngượng nghịu quấn một điếu thuốc rê rồi châm lửa hút. Đầu óc chếnh choáng. Thái có cái cảm giác gần như là sự đau đớn khi vừa mất đi một điều gì đó quý giá. Nhưng đó là điều gì vậy...
Sáng hôm sau, anh theo chú Tư Râu lên rẫy. Những hàng xoài đứng thành hàng, đều tăm tắp như những người lính già toả bóng xum xê. Xoài rẫy ra hoa muộn hơn xoài vườn. Thái giúp chú Tư Râu cưa bớt những cành thấp nhỏ. Đó là một cách làm cỏ xoài, chuẩn bị cho mùa hoa. Anh mải mê làm, mồ hôi túa ra, thở phì phò như kéo bễ. Tuy vậy trong anh dâng lên một cảm giác vừa dễ chịu, vừa thanh thản. Được vài chục gốc xoài thì mệt lử. Thái ôm lá chất thành đống lớn rồi nằm lăn ra trên cái nệm gây gây mùi nhựa cây đó. Những tia nắng mai lọc qua tán cây, nhẹ mảnh như những sợi tơ giăng. Ngự trị lên tất thảy là một sự thinh lặng mênh mông, vĩnh cửu. Thái cảm thấy cơ thể mình như đang từ từ rã ra, đang dần dần hoà tan vào vô biên, rồi anh chìm sâu vào một giấc ngủ nhẹ nhõm. Một giấc ngủ thần tiên chưa bao giờ anh trải qua trong đời.
Thái mơ thấy Quyên. Em mặc chiếc áo vàng nhạt như hoa cải. Họ cùng đi, tay trong tay, đi mãi. Tay em nhỏ nhắn và nóng ấm. Vòm xoài xanh trên đầu, những gốc xoài già đều tăm tắp như một hàng rào kéo dài đến vô tận. Gió mơn man, tiếng cười của em trong trẻo. Hương xoài thơm ngọt quyện với hương tóc thơm nồng quấn quýt quanh anh.
Thốt nhiên Thái thức giấc, ngơ ngác nhìn quanh. Anh cố nhớ về gương mặt Thuỷ nhưng đó là một sự cố gắng vô vọng. Nhập nhoà trong anh hình ảnh Quyên, chiếc áo vàng hoa cải, tóc xoã xuống vai. Em đang nhìn anh, mỉm cười. Thái xoè hai tay ra trân trân nhìn. Anh vừa nắm tay Quyên, cảm giác mềm ấm của bàn tay nhỏ nhắn dường như vẫn còn.
Buổi trưa, Thái và chú Tư Râu đang ăn cơm thì nhân viên bưu điện mang đến một bức điện. "Chắc con Thuỷ nó nhớ mày, nó muốn điệu mày về rồi đó", chú Tư Râu đủng đỉnh nói. Đúng là bức điện của Thuỷ: "Ba sắp ra bộ họp ba ngày. Anh sẽ đi với cụ. 6 giờ chiều nay, xe sẽ qua đón anh về. Em đợi anh ở nhà hàng Lạc Cảnh lúc 8 giờ kém 15. Thuỷ".
Thuỷ là vậy, bao giờ cũng rõ ràng, có kế hoạch, nhìn xa trông rộng. Sự chần chừ, những ý nghĩ vẩn vơ đối với Thuỷ đều xa lạ, phù phiếm.
Hàng giờ liền, Thái lang thang trong những vườn xoài. Hương xoài ngọt, hoa nở bung, vàng ươm, trông xa như một trời pháo hoa.
Không hề có những lời lẽ bi lụy, những ánh nhìn ướt át. Không có cả những câu hỏi thăm bóng gió. Cô sinh viên mơ mộng ngày nào giờ đón Thái như đón một người bạn cũ lâu ngày gặp lại. Thái cố cười to, cố bắt chặt tay Quyên rồi khảng khái buông ra. Quyên cũng cười theo, tiếng cười trong trẻo. Em đưa đến một xâu mực khô, để hai chú cháu lai rai với nhau.
Quyên nhóm xong bếp lò, đặt bên cạnh chiếc chõng tre đầu hè rồi xin phép về. Nhìn màu chiều xuống chậm trên tán xoài, Thái thấy mắt mình cay cay. Vì rượu, vì khói than bay xộc vào mắt hay vì điếu thuốc rê to sụ trên tay? Lần đầu tiên trong đời, anh ngượng nghịu quấn một điếu thuốc rê rồi châm lửa hút. Đầu óc chếnh choáng. Thái có cái cảm giác gần như là sự đau đớn khi vừa mất đi một điều gì đó quý giá. Nhưng đó là điều gì vậy...
Sáng hôm sau, anh theo chú Tư Râu lên rẫy. Những hàng xoài đứng thành hàng, đều tăm tắp như những người lính già toả bóng xum xê. Xoài rẫy ra hoa muộn hơn xoài vườn. Thái giúp chú Tư Râu cưa bớt những cành thấp nhỏ. Đó là một cách làm cỏ xoài, chuẩn bị cho mùa hoa. Anh mải mê làm, mồ hôi túa ra, thở phì phò như kéo bễ. Tuy vậy trong anh dâng lên một cảm giác vừa dễ chịu, vừa thanh thản. Được vài chục gốc xoài thì mệt lử. Thái ôm lá chất thành đống lớn rồi nằm lăn ra trên cái nệm gây gây mùi nhựa cây đó. Những tia nắng mai lọc qua tán cây, nhẹ mảnh như những sợi tơ giăng. Ngự trị lên tất thảy là một sự thinh lặng mênh mông, vĩnh cửu. Thái cảm thấy cơ thể mình như đang từ từ rã ra, đang dần dần hoà tan vào vô biên, rồi anh chìm sâu vào một giấc ngủ nhẹ nhõm. Một giấc ngủ thần tiên chưa bao giờ anh trải qua trong đời.
Thái mơ thấy Quyên. Em mặc chiếc áo vàng nhạt như hoa cải. Họ cùng đi, tay trong tay, đi mãi. Tay em nhỏ nhắn và nóng ấm. Vòm xoài xanh trên đầu, những gốc xoài già đều tăm tắp như một hàng rào kéo dài đến vô tận. Gió mơn man, tiếng cười của em trong trẻo. Hương xoài thơm ngọt quyện với hương tóc thơm nồng quấn quýt quanh anh.
Thốt nhiên Thái thức giấc, ngơ ngác nhìn quanh. Anh cố nhớ về gương mặt Thuỷ nhưng đó là một sự cố gắng vô vọng. Nhập nhoà trong anh hình ảnh Quyên, chiếc áo vàng hoa cải, tóc xoã xuống vai. Em đang nhìn anh, mỉm cười. Thái xoè hai tay ra trân trân nhìn. Anh vừa nắm tay Quyên, cảm giác mềm ấm của bàn tay nhỏ nhắn dường như vẫn còn.
Buổi trưa, Thái và chú Tư Râu đang ăn cơm thì nhân viên bưu điện mang đến một bức điện. "Chắc con Thuỷ nó nhớ mày, nó muốn điệu mày về rồi đó", chú Tư Râu đủng đỉnh nói. Đúng là bức điện của Thuỷ: "Ba sắp ra bộ họp ba ngày. Anh sẽ đi với cụ. 6 giờ chiều nay, xe sẽ qua đón anh về. Em đợi anh ở nhà hàng Lạc Cảnh lúc 8 giờ kém 15. Thuỷ".
Thuỷ là vậy, bao giờ cũng rõ ràng, có kế hoạch, nhìn xa trông rộng. Sự chần chừ, những ý nghĩ vẩn vơ đối với Thuỷ đều xa lạ, phù phiếm.
° ° °
Quyên đang ngồi nướng bánh tráng cho mẹ bán trong một cái quán nhỏ ở trước nhà. Chồng bánh vàng ruộm, phồng rộp, thơm phưng phức cứ cao dần. Vừa chăm chú lật qua lật về những chiếc bánh trên lò than em vừa hỏi:
- Mấy giờ xe đến đón anh?
- Gần một giờ nữa.
Phía bên kia đường, những vườn xoài chập chùng chạy dọc theo con lộ lớn. Miên man một màu vàng ươm của hoa xoài. Nắng chiều nhạt dần trên các tán lá. Chỉ nghe tiếng rì rào của vườn xoài, tiếng lách tách của bếp than và tiếng rù rì của một con ong bay lạc.
Một giờ nữa, anh sẽ lên xe. Sau một giờ trên chiếc xe máy lạnh 8 chỗ ngồi của ba Thuỷ, anh sẽ về đến thành phố. Nhà hàng Lạc Cảnh sẽ đón anh bằng món thịt bò nướng trứ danh toả khói mù mịt. Cả biển người ồn ào, tiếng khui bia, tiếng đập đá, tiếng cười nói, tiếng dzô... dzô... trăm phần trăm... Thuỷ sẽ dặn dò anh như dặn dò một đứa trẻ lần đầu tiên đến trường. Ra Hà Nội phải cẩn thận thế nào, sẽ phải hầu chuyện những ai, quà cáp đến những đâu... Nhất cử nhất động phải được tính toán trước, sẽ hối không kịp nếu có điều gì sơ sẩy.
Chồng bánh tráng đã quạt xong, Quyên mang đến đặt trước anh mấy chiếc, còn lại, em cho tất cả vào một cái túi nilon cỡ lớn. Quyên ngồi bó gối trước mặt anh, nói:
- Anh ăn đi, và thử nói xem ba ngày ở cái xứ xoài này anh đã làm được gì nào?
Bánh tráng nóng hổi, thơm giòn trên tay. Thái bẻ từng miếng nhỏ bỏ vào miệng. Miếng bánh giòn tan, thơm ngậy. Vị ngọt thơm cứ còn mãi. Anh nói:
- Làm được hai việc lớn: Phụ chú Tư Râu làm cỏ xoài và đọc nát cuốn Tom Xoyơ. Cuốn sách càng đọc càng thấy tuyệt. Chuyện cả trăm năm trước, lại viết về mấy đứa nhỏ bên Mỹ mà đọc lên cứ tưởng chuyện của bạn bè mình thời thơ ấu.
Quyên cười nhỏ:
- Chỉ tiếc một điều là trong đó không có chuyện ăn trộm xoài hay chọi dế.
Thái chợt sôi nổi, nói:
- Anh quyết phải viết cho được một cuốn sách cho thiếu nhi. Một vùng quê, những con đom đóm, lũ dế và một đám trẻ con. Sẽ không nhìn thấy tivi, không có những tập truyện tranh nước ngoài dài bất tận, không có trò chơi điện tử... Em tặng anh một cái tên nhé?
- Tên...
- Một cậu bé lối mười một mười hai, nghịch ngợm như Tom Xoyơ.
Quyên thoáng ngần ngừ:
- Em tặng anh một cái tên, nhưng anh phải hứa là chỉ khi nào bắt tay vào viết thì mới được giở ra.
- Anh hứa.
Thái đưa cho em cuốn sổ tay, Quyên mở sổ hý hoáy ghi vào đó rồi chạy vào nhà lấy keo dán cẩn thận niêm phong lại.
- Mấy giờ xe đến đón anh?
- Gần một giờ nữa.
Phía bên kia đường, những vườn xoài chập chùng chạy dọc theo con lộ lớn. Miên man một màu vàng ươm của hoa xoài. Nắng chiều nhạt dần trên các tán lá. Chỉ nghe tiếng rì rào của vườn xoài, tiếng lách tách của bếp than và tiếng rù rì của một con ong bay lạc.
Một giờ nữa, anh sẽ lên xe. Sau một giờ trên chiếc xe máy lạnh 8 chỗ ngồi của ba Thuỷ, anh sẽ về đến thành phố. Nhà hàng Lạc Cảnh sẽ đón anh bằng món thịt bò nướng trứ danh toả khói mù mịt. Cả biển người ồn ào, tiếng khui bia, tiếng đập đá, tiếng cười nói, tiếng dzô... dzô... trăm phần trăm... Thuỷ sẽ dặn dò anh như dặn dò một đứa trẻ lần đầu tiên đến trường. Ra Hà Nội phải cẩn thận thế nào, sẽ phải hầu chuyện những ai, quà cáp đến những đâu... Nhất cử nhất động phải được tính toán trước, sẽ hối không kịp nếu có điều gì sơ sẩy.
Chồng bánh tráng đã quạt xong, Quyên mang đến đặt trước anh mấy chiếc, còn lại, em cho tất cả vào một cái túi nilon cỡ lớn. Quyên ngồi bó gối trước mặt anh, nói:
- Anh ăn đi, và thử nói xem ba ngày ở cái xứ xoài này anh đã làm được gì nào?
Bánh tráng nóng hổi, thơm giòn trên tay. Thái bẻ từng miếng nhỏ bỏ vào miệng. Miếng bánh giòn tan, thơm ngậy. Vị ngọt thơm cứ còn mãi. Anh nói:
- Làm được hai việc lớn: Phụ chú Tư Râu làm cỏ xoài và đọc nát cuốn Tom Xoyơ. Cuốn sách càng đọc càng thấy tuyệt. Chuyện cả trăm năm trước, lại viết về mấy đứa nhỏ bên Mỹ mà đọc lên cứ tưởng chuyện của bạn bè mình thời thơ ấu.
Quyên cười nhỏ:
- Chỉ tiếc một điều là trong đó không có chuyện ăn trộm xoài hay chọi dế.
Thái chợt sôi nổi, nói:
- Anh quyết phải viết cho được một cuốn sách cho thiếu nhi. Một vùng quê, những con đom đóm, lũ dế và một đám trẻ con. Sẽ không nhìn thấy tivi, không có những tập truyện tranh nước ngoài dài bất tận, không có trò chơi điện tử... Em tặng anh một cái tên nhé?
- Tên...
- Một cậu bé lối mười một mười hai, nghịch ngợm như Tom Xoyơ.
Quyên thoáng ngần ngừ:
- Em tặng anh một cái tên, nhưng anh phải hứa là chỉ khi nào bắt tay vào viết thì mới được giở ra.
- Anh hứa.
Thái đưa cho em cuốn sổ tay, Quyên mở sổ hý hoáy ghi vào đó rồi chạy vào nhà lấy keo dán cẩn thận niêm phong lại.
° ° °
Sau nhà hàng Lạc Cảnh là một chuyến công du ra Hà Nội. Thái thực hiện xuất sắc vai trò của người trợ lý, tháp tùng bố vợ tương lai đi du ngoạn và đặt các mối bang giao cần thiết cho bước đường danh vọng sau này.
Dòng đời cứ thế tuôn chảy. Mấy năm sau, trong một đêm mất ngủ, mắt chong chong nhìn vào đêm tối, anh chợt ngồi bật dậy, mò tìm lại cuốn sổ tay cũ; tìm đến toát mồ hôi, lục tung cả chồng sách vở, báo chí mà không thấy. Sau một hồi lâu, anh mới thấy nó nằm trong một ngăn kéo dăng đầy mạng nhện.
Một thoáng ngần ngừ, Thái mở trang vở có dấu niêm phong của Quyên. Trên trang giấy, nguệch ngoạc bức ký hoạ một cậu bé mặc chiếc quần cộc, áo hở rốn, cười toe toét. Lơ thơ mấy sợi tóc trên đầu. Có một hàng chữ nhỏ mềm mại ở dưới: Chân dung hiệp sĩ Ngàn Lau. Từ trang giấy toả ra một mùi hương dịu nhẹ như có như không. Mùi hương có vị ngọt như hương hoa xoài, lại thoảng vị nồng ấm của hương tóc.
Thái lặng đi, tê dại. Ký ức cũ hiện về rõ mồn một. Lần đó, anh tham gia một chuyến du khảo do Thành đoàn tổ chức. Đến nơi cắm trại, anh men theo một con suối, lang thang đi một mình. Dưới chân một con thác nhỏ, anh bắt gặp một cô sinh viên. Thái hỏi:
- Này em bé, thác tên gì?
Cô bé hơi nheo mắt nhìn anh:
- Thứ nhất, tôi không còn là em bé, tôi chỉ học sau anh một khoá thôi, thứ hai, tên thác được đặt theo tên suối.
Thái cười xoà:
- Vậy suối tên gì?
- Suối mang tên núi.
- Chẳng lẽ núi còn mang tên một người anh hùng, một trận đánh?
- Không, núi có tên là Ngàn Lau, anh xem kìa.
Theo tay em chỉ, Thái nhìn xuống triền núi. Bạt ngàn lau trắng như mây. Vẻ hoang sơ, hùng vĩ của rừng núi khiến anh ngơ ngẩn. Lúc quay lại thì em biến đâu mất. Buổi tối, khi đốt lửa trại, Thái tìm đến anh trưởng đoàn, thao thao bất tuyệt về căn cứ địa Ngàn Lau. Vị trưởng đoàn nhìn Thái như nhìn một sinh vật kỳ dị. Anh ta kêu lên: "Này, cậu đang khoác lác về cái gì đó?". Hoá ra núi có một tên khác, suối có một tên khác và tên thác lại khác nữa. Thái hậm hực lao bổ ra ngoài đi tìm em...
Gấp lại cuốn sổ tay, đặt lên giá sách, Thái thầm thì: "Nhưng giá như đêm đó tôi không gặp em..."
Dòng đời cứ thế tuôn chảy. Mấy năm sau, trong một đêm mất ngủ, mắt chong chong nhìn vào đêm tối, anh chợt ngồi bật dậy, mò tìm lại cuốn sổ tay cũ; tìm đến toát mồ hôi, lục tung cả chồng sách vở, báo chí mà không thấy. Sau một hồi lâu, anh mới thấy nó nằm trong một ngăn kéo dăng đầy mạng nhện.
Một thoáng ngần ngừ, Thái mở trang vở có dấu niêm phong của Quyên. Trên trang giấy, nguệch ngoạc bức ký hoạ một cậu bé mặc chiếc quần cộc, áo hở rốn, cười toe toét. Lơ thơ mấy sợi tóc trên đầu. Có một hàng chữ nhỏ mềm mại ở dưới: Chân dung hiệp sĩ Ngàn Lau. Từ trang giấy toả ra một mùi hương dịu nhẹ như có như không. Mùi hương có vị ngọt như hương hoa xoài, lại thoảng vị nồng ấm của hương tóc.
Thái lặng đi, tê dại. Ký ức cũ hiện về rõ mồn một. Lần đó, anh tham gia một chuyến du khảo do Thành đoàn tổ chức. Đến nơi cắm trại, anh men theo một con suối, lang thang đi một mình. Dưới chân một con thác nhỏ, anh bắt gặp một cô sinh viên. Thái hỏi:
- Này em bé, thác tên gì?
Cô bé hơi nheo mắt nhìn anh:
- Thứ nhất, tôi không còn là em bé, tôi chỉ học sau anh một khoá thôi, thứ hai, tên thác được đặt theo tên suối.
Thái cười xoà:
- Vậy suối tên gì?
- Suối mang tên núi.
- Chẳng lẽ núi còn mang tên một người anh hùng, một trận đánh?
- Không, núi có tên là Ngàn Lau, anh xem kìa.
Theo tay em chỉ, Thái nhìn xuống triền núi. Bạt ngàn lau trắng như mây. Vẻ hoang sơ, hùng vĩ của rừng núi khiến anh ngơ ngẩn. Lúc quay lại thì em biến đâu mất. Buổi tối, khi đốt lửa trại, Thái tìm đến anh trưởng đoàn, thao thao bất tuyệt về căn cứ địa Ngàn Lau. Vị trưởng đoàn nhìn Thái như nhìn một sinh vật kỳ dị. Anh ta kêu lên: "Này, cậu đang khoác lác về cái gì đó?". Hoá ra núi có một tên khác, suối có một tên khác và tên thác lại khác nữa. Thái hậm hực lao bổ ra ngoài đi tìm em...
Gấp lại cuốn sổ tay, đặt lên giá sách, Thái thầm thì: "Nhưng giá như đêm đó tôi không gặp em..."
Thứ Hai, 3 tháng 2, 2020
Người ngồi chờ sương mù
Nguyễn Hoa Lư
1. Nàng mở cửa bước ra sân. Bầu trời sáng mai vần vũ mây khói và những hạt bụi nước li ti như tơ giăng. Chút se lạnh hiếm hoi ở thành phố phương Nam quanh năm đầy nắng này khiến nàng thoáng nao nao, không biết đang vui hay đang buồn. Có tiếng Cường vọng ra từ gara ôtô:
– Để anh chở em đến cơ quan.
Cường đang chăm chú săn sóc “con Mercedes” mới tậu được mấy tháng nay. Cái dáng lui cui đầy cẩn trọng, trên tay lăm lăm cái khăn lau bên cạnh chiếc xe bóng loáng là hình ảnh quen thuộc của chồng nàng. Nàng nói nhỏ:
– Thôi anh ạ, em không vội, đi xe đạp cũng được.
Nàng mở cổng, chợt sững người trước cây bàng cổ thụ. Những tầng lá rậm rạp đang cháy rực lên màu đồng đỏ trầm tĩnh, tương phản với cái trong trẻo mong manh của những hạt mưa bụi tạo nên những đợt sóng vô hình bóp nhẹ con tim. Nàng chợt thốt lên:
– Ôi, anh nhìn kìa.
– Gì vậy em?
Cường vẫn không ngẩng đầu lên, vẫn nguyên cái dáng săm soi đầy cần mẫn, chiếc khăn vải di di lau nhẹ chiếc gương chiếu hậu. Nàng luống cuống nói:
– À, không có gì.
Rồi hấp tấp dắt xe ra khỏi cổng.
2. Những con phố xôn xao gió, bỡ ngỡ màu áo len thấp thoáng trong dòng người xuôi ngược. Vượt qua nàng là một đôi bạn trẻ, sóng đôi trên hai chiếc xe đạp, áo xanh đồng phục sinh viên. Những tiếng cười trong trẻo rớt lại tạo nên dư âm ngân nga quyến rũ gợi nhớ về một thời đi học xa xăm. Những người trẻ, nàng tự nhủ, có chồng đã bảy năm như nàng thì có còn được gọi là những người trẻ hay không?
Đột nhiên nàng nhớ đến gã, người bạn thời sinh viên của mình. Cùng trong một thành phố nhưng từ ngày nàng bất ngờ “theo chồng bỏ cuộc chơi”, có khi vài năm họ mới gặp nhau một lần. Đó là những cuộc hội ngộ của đám bạn bè cũ lúc nào cũng tràn ngập tiếng nói cười và những lời trêu chọc.
Làm sao mình lại nhớ đến gã được nhỉ? Nàng bị thu hút bởi tính cách điềm tĩnh của gã. Cái nhìn có lửa của gã như thấu hết mọi nỗi bối rối và những xao động nhỏ nhất trong sâu thẳm tâm hồn bao giờ cũng khiến nàng chới với.
Trước cổng cơ quan, Liễu vẫy tay gọi nàng, giọng liến thoắng: “Giám đốc bận đột xuất, một đối tác mới của nước ngoài. Cuộc họp dời sang tuần sau”. Nàng thấy nhẹ bỗng. Liễu đề nghị: “Cà phê nghe?”, nàng gật đầu: “Ừ, đến Melody”. Liễu nói: “Chị đạp xe đi trước, em vào lấy tập tài liệu”.
Melody là quán cà phê tĩnh lặng với những dãy bàn kê sát bờ sông và tiếng nhạc thì êm dịu như tỏa ra mênh mang từ những tán cây. Nàng bước vào, xăm xăm đi đến chiếc bàn quen thuộc, tim chợt thót lại, má nóng ran. Gã đang ngồi đó, mơ màng nhìn sang phía bên kia sông.
Gã quay lại, điềm nhiên như mọi sự đã được sắp đặt và chuẩn bị sẵn, gã kéo ghế cho nàng, giọng nói như giấu một tiếng cười: “Trái đất thì nhỏ mà thành phố lại quá rộng. Bao lâu rồi chúng ta chưa gặp nhau?”.
3. Nàng hỏi:
– Anh đi uống cà phê một mình?
Nàng chợt thấy luống cuống, má nóng ran vì câu hỏi ngớ ngẩn của mình. Gã cười nhẹ:
– Lúc nãy thì một mình.
– Anh có chờ ai?
– Chờ ai… em xem kìa…
Gã chỉ tay sang phía những triền núi bên kia sông, những dãy núi đá trập trùng, cây cối thưa thớt, sương chiều từ đỉnh núi tràn xuống mờ mịt. Nàng buột miệng:
– Sương mù…
– Ừ, anh đang ngồi chờ sương mù.
Nàng bật cười nhưng trông gã rất nghiêm túc. Gã đốt thuốc, giọng trầm xuống:
– Mỗi năm có một vài ngày sương mù tràn xuống từ núi. Sương bay mờ mịt trên sông rồi tràn vào thành phố. Vào những ngày đó, có những khoảnh khắc thành phố chợt lung linh hư ảo.
Sương mù dày đặc, không còn nhìn thấy những đỉnh núi được nữa, sương cuồn cuộn đổ xuống các thung lũng và tràn xuống bờ sông. Phía đầu nguồn con sông, thấp thoáng sau những ngọn dừa nước xanh um là vầng mặt trời đỏ ửng như một quả cây chín lựng bồng bềnh trôi. Mấy gộp đá bên kia sông chìm dần trong màu lam nhẹ. Những con thuyền đánh cá như treo lơ lửng trong màn sương, chỉ vang lại những tiếng gõ vào mạn thuyền. Tiếng một bài hát đầy mộng mị: “Bên chân núi, trong căn nhà gỗ, bếp lửa được đốt lên. Lửa rừng rực cháy, tiếng nhạc chung chiêng, vì lửa hay vì rượu. Bên ngoài là sương gió, là thời gian vun vút trôi…”.
Chuông điện thoại vang lên, giọng Liễu hốt hoảng: “Có tập tài liệu em tìm mãi không thấy, chị về gấp cứu em, giám đốc đang nổi giận”. Gã đốt thuốc, mắt đăm đăm nhìn nàng, ánh nhìn như có lửa đốt:
– Bây giờ anh lại uống cà phê một mình.
4. Nàng bước vào sân, Cường cũng vừa đi đâu về, chiếc Mercedes bóng loáng vẫn còn trước sân. Phía sau xe, giọng Cường càu nhàu:
– Thật là một buổi chiều xui xẻo, một gã say rượu đâm thẳng vào xe.
Nàng hốt hoảng:
– Có sao không?
– Chiếc xe đạp thì bẹp gí mà người lại không một chút sây sát. Nhưng chiếc xe của anh, làm thế nào với mấy vết trầy bên hông xe được đây?
Nàng vội vã bước vào phòng, nằm xoài xuống giường nhũn ra như một con sứa biển. Nàng vùi mặt vào gối, cứ vẳng bên tai tiếng hát đầy mộng mị: “Bên ngoài là sương gió, là thời gian vun vút trôi…”.
Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019
Thủ khoa
Anh vào lớp tôi với bộ tịch lạ.
Cái túi khoác qua vai tố cái thân hình quá mỏng của anh. Cái áo không biết màu gì, phần cổ và vai áo có thể gọi là màu đen. Con gái Khoa Toán hiếm nhưng cũng đủ họp chợ mà khôngcần thêm con vịt nào. Chúng vừa nhìn anh vừa thì thầm:
- Chim bay qua nhả hạt cải trúng hắn thế nào cũng có rau ăn.
Chỉ có đôi mắt là vật chứng thực cho cái tiếng thủ khoa của anh. Đôi mắt đen, sáng và có chút trẻ con. Đôi mắt đen láy đó vào hùa với nụ cười có núm đồng tiền bể biến anh thành cậu bé hơn là chàng trai.
Anh học giỏi thật. Lũ con gái chúng tôi mỗi đứa nhìn anh một kiểu. Đứa thì cười thân thiện để được trò chuyện với anh. Ai chả thích được tiếng là bạn của thủ khoa. Đứa thì cười năn nỉ để được anh giải toán giúp. Dân Khoa Toán ăn rồi chỉ giải toán mà còn không hết. Lũ con gái học khô người cũng chả giải hết, tốt nhất là nhờ. Có đứa cười bẽn lẽn với anh. Tôi ghét nhất loại này.
Chúng muốn gì? Tôi hiểu chúng hơn anh. Anh luôn mang gương mặt cậu bé để tiếp tất cả lũ con gái. May là khoa toán ít con gái, chứ không bảo đảm anh không già nổi.
Tôi không đẹp, nhưng lạ. Tôi lạ bởi vẻ tỉnh bơ (cho dù chả giải được bài toán nào, toàn đi chép), bởi nụ cười hóm hỉnh. Bọn con trai nhận ra điều đó và anh không phải ngoại lệ. Anh bỏ gương mặt cậu bé, nghiêm trang khi nói chuyện với tôi. Anh tự nguyện giải bài cho tôi ngay cả khi đã có người khác giải rồi.
Chúng tôi thường ngồi một đám dưới gốc phượng già trong góc sân trường. Khoẻ thì giải toán, mà mệt thì tán gẫu. Khi có mặt anh thì giải toán, để còn nhờ, để có cái chép vô tập phòng khi bị kêu lên bảng. Khi không có anh thì quay ra nói xấu anh. Đề tài yêu thích nhất là cái áo không rõ màu của anh. Chúng tôi tranh nhau đoán màu áo trong khi biết mười mươi khi xưa Cái áo cũ lắm rồi, không biết lần đầu tiên anh mặc nó là khi nào?
Bọn con gái chúng tôi tự ra đề: “Tại sao cổ và vai áo Anh màu đen?” và cùng nhau giải.
- Nhớ mặc mà quên không giặt.
Đứa khác cãi:
- Trật lất. Tại sao trong sạch mà ngoài đen?
Đứa nọ nêu ý kiến:
- Mặc áo hai mặt, nên đổi màu hai lớp, lớp nào mặc nhiều thì đen hơn.
Thế là chúng tôi lén quan sát xem có đúng là anh mặc áo hai mặt không. Chưa đứa nào thành công cả. Nghĩa là chúng tôi không giải được bài toán hóc búa này. Như thường lệ, lũ con gái không giải được thì con trai giải. Chúng tôi vẫy vài cậu quen thân với Anh lại và yêu cầu giải.
Bọn con trai đọc đề xong im lặng. Lũ con gái hãi im luôn.
Một chị lớn tuổi, đáng tin cậy nhất được bọn con trai tiết lộ đáp án của bài toán đó, với điều kiện chị không được công bố cho ai. Thế mà chị cũng rỉ ra cho một cô bạn thân. Cô bạn thân lại nói cho cô bạn thân của mình..., cuối cùng cô bạn thân của tôi nói cho tôi:
- Bạn ấy đạp xích lô lấy tiền phụ giúp gia đình và ăn học từ nhiều năm rồi. Vai và cổ áo đen là vì phải vác hàng cho khách là những người buôn bán ở chợ.
Từ dạo đó số con gái cười bẽn lẽn với anh, tức là cái lũ mà tôi ghét, tăng lên. Mặc dù anh đối với tôi tốt hơn. Đôi khi ngồi dưới gốc phượng già anh vô tình viết tên tôi nhiều lần.
Rồi vì một lý do giống như là số phận, tôi chuyển trường. Thời gian đầu tôi thấy nhớ gốc phượng già và nhớ anh. Nhưng cái mặt tôi vẫn tỉnh queo. Chúng tôi viết thư cho nhau. Tôi chả nhớ tôi viết gì, nhưng nhớ anh viết gì.
Anh viết việc học toán, chiến tranh biên giới, sinh hoạt đoàn...cả về triết học và chính trị nữa. Toàn những thứ mà một người con gái bình thường chả thích nghe tí nào. Rồi tôi có tin tình báo về việc số con gái cười bẽn lẽn với anh ngày càng tăng. Tôi phải đối diện với bệnh tật và việc vượt qua bệnh tật để bám trụ ở đại học. Tôi không viết thư cho anh nữa...
Sau đó nhiều năm, ngày biết anh kết hôn với một trong số những người con gái năm nào, không hiểu sao tôi về ngồi lại dưới gốc phượng già.
Về không anh! nơi đỏ trời hoa phượng nở
Tìm tiếng ve trưa thuở có nhau
Tìm nhắn nhủ nơi gốc phượng già
Mắt em buồn thắm đỏ cánh phượng rơi
Nhớ chăng anh nông nổi tuổi thơ ngây
Nhớ khi xưa anh lén viết tên em
Giờ phượng già đơn côi còn giữ
Dựa thân cây mà ngỡ bên anh
Hãy cho em đi về nỗi nhớ
Mùa hạ xưa, em có anh thuở ấy...
Tiếng ve khát mưa bỏng nắng hạ buồn
Em hóa kiếp ve rêu rao khúc tình xưa
Bên gốc phượng già mình em chiều quá vãng
Phượng ơi! nhớ khi xưa tím ngắt cả góc trời ...
Đây chỉ là câu chuyện hư cấu.
--------------------------------------------
Cái túi khoác qua vai tố cái thân hình quá mỏng của anh. Cái áo không biết màu gì, phần cổ và vai áo có thể gọi là màu đen. Con gái Khoa Toán hiếm nhưng cũng đủ họp chợ mà khôngcần thêm con vịt nào. Chúng vừa nhìn anh vừa thì thầm:
- Chim bay qua nhả hạt cải trúng hắn thế nào cũng có rau ăn.
Chỉ có đôi mắt là vật chứng thực cho cái tiếng thủ khoa của anh. Đôi mắt đen, sáng và có chút trẻ con. Đôi mắt đen láy đó vào hùa với nụ cười có núm đồng tiền bể biến anh thành cậu bé hơn là chàng trai.
Anh học giỏi thật. Lũ con gái chúng tôi mỗi đứa nhìn anh một kiểu. Đứa thì cười thân thiện để được trò chuyện với anh. Ai chả thích được tiếng là bạn của thủ khoa. Đứa thì cười năn nỉ để được anh giải toán giúp. Dân Khoa Toán ăn rồi chỉ giải toán mà còn không hết. Lũ con gái học khô người cũng chả giải hết, tốt nhất là nhờ. Có đứa cười bẽn lẽn với anh. Tôi ghét nhất loại này.
Chúng muốn gì? Tôi hiểu chúng hơn anh. Anh luôn mang gương mặt cậu bé để tiếp tất cả lũ con gái. May là khoa toán ít con gái, chứ không bảo đảm anh không già nổi.
Tôi không đẹp, nhưng lạ. Tôi lạ bởi vẻ tỉnh bơ (cho dù chả giải được bài toán nào, toàn đi chép), bởi nụ cười hóm hỉnh. Bọn con trai nhận ra điều đó và anh không phải ngoại lệ. Anh bỏ gương mặt cậu bé, nghiêm trang khi nói chuyện với tôi. Anh tự nguyện giải bài cho tôi ngay cả khi đã có người khác giải rồi.
Chúng tôi thường ngồi một đám dưới gốc phượng già trong góc sân trường. Khoẻ thì giải toán, mà mệt thì tán gẫu. Khi có mặt anh thì giải toán, để còn nhờ, để có cái chép vô tập phòng khi bị kêu lên bảng. Khi không có anh thì quay ra nói xấu anh. Đề tài yêu thích nhất là cái áo không rõ màu của anh. Chúng tôi tranh nhau đoán màu áo trong khi biết mười mươi khi xưa Cái áo cũ lắm rồi, không biết lần đầu tiên anh mặc nó là khi nào?
Bọn con gái chúng tôi tự ra đề: “Tại sao cổ và vai áo Anh màu đen?” và cùng nhau giải.
- Nhớ mặc mà quên không giặt.
Đứa khác cãi:
- Trật lất. Tại sao trong sạch mà ngoài đen?
Đứa nọ nêu ý kiến:
- Mặc áo hai mặt, nên đổi màu hai lớp, lớp nào mặc nhiều thì đen hơn.
Thế là chúng tôi lén quan sát xem có đúng là anh mặc áo hai mặt không. Chưa đứa nào thành công cả. Nghĩa là chúng tôi không giải được bài toán hóc búa này. Như thường lệ, lũ con gái không giải được thì con trai giải. Chúng tôi vẫy vài cậu quen thân với Anh lại và yêu cầu giải.
Bọn con trai đọc đề xong im lặng. Lũ con gái hãi im luôn.
Một chị lớn tuổi, đáng tin cậy nhất được bọn con trai tiết lộ đáp án của bài toán đó, với điều kiện chị không được công bố cho ai. Thế mà chị cũng rỉ ra cho một cô bạn thân. Cô bạn thân lại nói cho cô bạn thân của mình..., cuối cùng cô bạn thân của tôi nói cho tôi:
- Bạn ấy đạp xích lô lấy tiền phụ giúp gia đình và ăn học từ nhiều năm rồi. Vai và cổ áo đen là vì phải vác hàng cho khách là những người buôn bán ở chợ.
Từ dạo đó số con gái cười bẽn lẽn với anh, tức là cái lũ mà tôi ghét, tăng lên. Mặc dù anh đối với tôi tốt hơn. Đôi khi ngồi dưới gốc phượng già anh vô tình viết tên tôi nhiều lần.
Rồi vì một lý do giống như là số phận, tôi chuyển trường. Thời gian đầu tôi thấy nhớ gốc phượng già và nhớ anh. Nhưng cái mặt tôi vẫn tỉnh queo. Chúng tôi viết thư cho nhau. Tôi chả nhớ tôi viết gì, nhưng nhớ anh viết gì.
Anh viết việc học toán, chiến tranh biên giới, sinh hoạt đoàn...cả về triết học và chính trị nữa. Toàn những thứ mà một người con gái bình thường chả thích nghe tí nào. Rồi tôi có tin tình báo về việc số con gái cười bẽn lẽn với anh ngày càng tăng. Tôi phải đối diện với bệnh tật và việc vượt qua bệnh tật để bám trụ ở đại học. Tôi không viết thư cho anh nữa...
Sau đó nhiều năm, ngày biết anh kết hôn với một trong số những người con gái năm nào, không hiểu sao tôi về ngồi lại dưới gốc phượng già.
Về không anh! nơi đỏ trời hoa phượng nở
Tìm tiếng ve trưa thuở có nhau
Tìm nhắn nhủ nơi gốc phượng già
Mắt em buồn thắm đỏ cánh phượng rơi
Nhớ chăng anh nông nổi tuổi thơ ngây
Nhớ khi xưa anh lén viết tên em
Giờ phượng già đơn côi còn giữ
Dựa thân cây mà ngỡ bên anh
Hãy cho em đi về nỗi nhớ
Mùa hạ xưa, em có anh thuở ấy...
Tiếng ve khát mưa bỏng nắng hạ buồn
Em hóa kiếp ve rêu rao khúc tình xưa
Bên gốc phượng già mình em chiều quá vãng
Phượng ơi! nhớ khi xưa tím ngắt cả góc trời ...
Đây chỉ là câu chuyện hư cấu.
--------------------------------------------
Thứ Hai, 8 tháng 10, 2018
ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH
Bên dòng suối ngắm hoa trôi
Cất gian lều nhỏ lưng đồi cỏ may
Xuống đồng tát cá, bới khoai
Vào non bẫy thú, nằm dài nghe chim
Anh em nhớ đến nhau tìm
Qua nương trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cuời khàn
Vuốt râu, viết sách, hưởng nhàn
Then mây khoá một niết bàn bên khe
Cất gian lều nhỏ lưng đồi cỏ may
Xuống đồng tát cá, bới khoai
Vào non bẫy thú, nằm dài nghe chim
Anh em nhớ đến nhau tìm
Qua nương trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cuời khàn
Vuốt râu, viết sách, hưởng nhàn
Then mây khoá một niết bàn bên khe
Phạm Thiên Thư
Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2018
Quán vắng
TT - Năm 20 tuổi, tôi yêu, một mối tình đơn phương. 2 giờ chiều ngày 30 tết năm ấy, tôi đột ngột lên xe máy đi về V - một thị trấn nhỏ cách Nha Trang hơn 60km.
Không ai chờ tôi nơi đó cả. Đơn giản là tôi muốn đón giao thừa bên bờ con sông chảy qua thị trấn, sẽ gọi điện thoại cho người tôi yêu. Nàng cùng gia đình lên thành phố đã lâu nhưng tôi biết trong nàng dòng sông tuổi thơ vẫn đẹp lung linh và huyền diệu.
Không ai chờ tôi nơi đó cả. Đơn giản là tôi muốn đón giao thừa bên bờ con sông chảy qua thị trấn, sẽ gọi điện thoại cho người tôi yêu. Nàng cùng gia đình lên thành phố đã lâu nhưng tôi biết trong nàng dòng sông tuổi thơ vẫn đẹp lung linh và huyền diệu.
Hơn 4 giờ chiều thì tôi đến V. Trước mặt tôi hiện lên con sông rộng, trắng xóa. Gió mát lạnh từ sông ào ào thổi qua những hàng dừa và những vạt đước rậm rạp. Ghé vào một quán vắng, một nhà sàn nhỏ, mái lợp tranh dựng bên mé sông. Những bộ bàn ghế mây cũ, lộn xộn, liêu xiêu, những cửa sổ lớn mở toang ra phía mặt sông mênh mang. Một cô bé lối 13, 14 tuổi bước ra vòng tay lễ phép hỏi:
- Thưa ông dùng gì?
Trông tôi như vừa được lôi ra từ bụi đất chăng? Cái giọng trọ trẹ, vẻ trang nghiêm của cô bé khiến tôi suýt bật cười. Trong đôi mắt mở to kia như có dòng sông chảy qua. Tôi hơi lúng túng, chợt đưa ra một đề nghị bất ngờ:
- Một xị rượu ngon.
- Ông muốn dùng thức nhắm gì ạ?
- A... A... - tôi gãi đầu.
- Hay ông dùng mực nướng?
- Ồ tất nhiên... một con mực nướng.
Loáng thoáng cuối quán là người chủ quán đang lúi húi sửa soạn cái gì đó. Một người đàn ông cao lớn, tóc muối tiêu dài tận vai. Những bước chân khập khễnh không giảm đi ở ông dáng quắc thước của một lão tướng.
Cô bé lễ mễ bê ra một xị rượu, một đĩa mực nướng. Những miếng mực dày cui, vàng xuộm, cong vênh và thơm lựng.
- Thưa ông, ông là vị khách cuối cùng trong năm, lại là người ở xa đến, ba con bảo không tính tiền.
- Sao em dám bảo tôi là người ở xa đến?
- Dạ thị trấn này nhỏ, mọi người đều quen mặt nhau.
Từ phía bên kia bờ sông, một cơn mưa nhỏ bất chợt kéo về. Mây như khói giăng kín mặt sông. Những giề lục bình lững lờ trôi xuôi như chìm dần vào cõi hư vô. Tôi nhấp ly rượu, rưng rưng một cảm giác kỳ lạ. Cái quạnh vắng của quán nhỏ chiều ba mươi tết, màu trời xám xịt bên kia sông và cả cái cung cách vừa gần gũi vừa bình dị của cha con người chủ quán khiến dâng lên trong tôi một cảm giác lạ lùng đến nghẹt thở.
Tôi đứng dậy, dợm bước ra cửa:
- Chào bác chủ.
Ông chủ quán ngẩng đầu nhìn tôi:
- Chú chê rượu quán tôi nhạt à?
- Cháu không đến xin rượu... cũng không có ý định ngồi độc ẩm...
- À... chú em cứ ngồi xuống, tôi ra ngay bây giờ.
Cô bé an ủi tôi:
- Để em bê cành đào ra cho ông ngắm đỡ.
Một cành đào xum xuê, rực hồng, ấm áp. Cô bé giải thích:
- Đào Nhật Tân vào đó ông.
- Sao nó... lưu lạc cả ngàn cây số vào đây?
- Có một người lính của ba em, giờ làm giám đốc một công ty ở Hà Nội. Mấy năm nay, tết nào chú ấy cũng gửi vào đây một cành đào Nhật Tân...
Người chủ quán khập khễnh bước ra ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Ông tự tay rót cho mình một ly rượu, ngửa cổ uống cạn rồi lặng lẽ vấn điếu thuốc rê to sụ. Trong giây phút đó, hình như toàn bộ tâm trí của ông dồn vào cái công việc đơn điệu quen thuộc này. Tôi lên tiếng:
- Chắc bác là người Hà Nội?
- Hà Nội gốc. Nhưng hơn nửa đời tôi sống trên kia.
Đó là những dãy núi sẫm bóng chiều, đang chìm trong màn mưa.
- 16 tuổi thì vào lính, bao nhiêu năm bom đạn nó ngán mình, đến ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, một mảnh đạn pháo tiện đứt cả khúc chân. Ý chừng quả đạn pháo muốn nhắc nhở tôi: này con ngựa già, ngang dọc nhiều rồi, về vườn cũ gặm cỏ đi thôi.
- Và đây là vườn cũ của bác?
- Tôi về đây để mỗi chiều ngồi đối ẩm với những người bạn lính đang nằm trên dãy núi kia.
Thịt mực nướng chín vẫn giữ màu trắng như thịt gà luộc. Tôi xé những mảnh nhỏ, chấm vào đĩa tương ớt, hít hà vì cay. Người chủ quán nói:
- Hễ có việc đi đâu xa là tôi phải cắp theo một bầu rượu, mấy con mực khô và một nắm ớt, dọc đường cứ khư khư mà ôm quý như đồ gia bảo. Chú ở xa đến có biết truyền thuyết về ớt cay vùng này?
- Lại có cả truyền thuyết?
- Truyền thuyết như mạch nước ngầm chảy trong nhân gian. Đó cũng là một thứ rượu quý.
Dưới ánh sáng của đốm lửa đầu môi, đôi mắt người chủ quán ánh lên vừa ranh mãnh vừa hồn nhiên:
- Xưa có anh chàng bạch diện thư sinh từ miệt ngoài lãng du qua miền này. Ngồi trên con đò qua khúc sông kia, gã hỏi cô lái đò về các món ăn đặc sản. Cô lái đò kể một thôi một hồi, xong lại nhắc thêm: món ăn xứ này đều dùng nhiều ớt, phải cẩn thận kẻo ớt cay đứt lưỡi như chơi. Gã cười ha ha: Cô gái ơi: ngoài quê tôi người ta ăn ớt như ăn rau mà. Đò vừa cập bến, gã xốc áo đứng lên than thầm: phải chi sông rộng như dải Ngân hà, để gã suốt đời ngồi ngắm nhìn cô lái xinh đẹp. Cô lái dặn nếu ăn ớt nóng quá thì quay lại cô chữa cho.
Ở quán trọ, trong bữa ăn gã nhón lấy một quả ớt đỏ, điềm nhiên cắn ngang nhai rau ráu. Chẳng ngờ hơi cay xông lên, nước mắt nước mũi giàn giụa, lưỡi phồng rộp, bỏng rát. Gã vục đầu vào bể nước nhưng vòm miệng cứ như có một cục than đỏ. Gã cuống cuồng chạy ra bờ sông. Cô gái bảo gã thè lưỡi ra để cô bôi thuốc. Gã nhắm mắt, hé miệng. Đột ngột, cô gái cúi xuống áp mặt mình vào mặt gã rồi ngậm chặt cái lưỡi bỏng rát của gã. Trong khoảnh khắc gã miên man chìm vào một cảm giác ngọt ngào, mát rượi...
Người chủ quán bật cười kha kha, khập khễnh đi ra sau quán. Tiếng cười giòn vang và sảng khoái khiến những cánh đào dường như cũng rung lên nhè nhẹ.
Tôi ra khỏi quán, dắt xe dọc bờ sông loang loáng ánh sao đêm. Tôi cứ đi, đi mãi...
Truyện 1.199 chữ của NGUYỄN HOA LƯ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






